Đền Bà

Nơi hội tụ giá trị tín ngưỡng – lịch sử – cộng đồng, gắn với tục Kéo mỏ được UNESCO vinh danh.

Niên đại

Hơn 2000 năm

Xếp hạng

Di tích cấp TP

UNESCO

Vinh danh 2015

Lễ hội

Mùng 4 Tết

Tổng quan chung

Di tích tín ngưỡng thờ Thần của cộng đồng thôn Xuân Lai, mang giá trị lịch sử – văn hoá – kiến trúc nghệ thuật.

Tổng quan không gian Đền Bà
Tổng quan không gian Đền Bà – điểm sinh hoạt tín ngưỡng và văn hoá cộng đồng.

Điểm nhấn

  • Tên thường gọi: Đền Bà (Đền Vua Bà)
  • Loại hình: Di tích Lịch sử & Kiến trúc Nghệ thuật
  • Chức năng: Trung tâm sinh hoạt tâm linh – hội họp cộng đồng.
  • Nổi bật: Lễ hội mùng 4 tháng Giêng và tục Kéo mỏ.
  • Lưu giữ di vật niên đại: 1866, 1910, 1924…

Đền Bà (còn gọi là Đền Vua Bà) là di tích tín ngưỡng thờ Thần của cộng đồng cư dân thôn Xuân Lai, xã Xuân Thu, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Không chỉ là nơi phụng thờ và tưởng niệm vị thần theo tín ngưỡng dân gian, đền còn là không gian hội họp, tổ chức sinh hoạt văn hoá tinh thần, góp phần gắn kết cộng đồng qua nhiều thế hệ.

Lịch sử & Thần tích

Bối cảnh vùng đất, truyền thống lịch sử và thần tích vị thần được thờ tại di tích.

Xuân Lai là một trong những làng cổ thuộc xã Xuân Thu, nằm ở vị trí giao thoa giữa vùng trung du – bán sơn địa và đồng bằng châu thổ Sông Hồng. Trải qua lịch sử, nhân dân địa phương vừa chống chọi thiên nhiên, vừa tham gia tích cực vào công cuộc giữ nước – giữ làng, tạo nên truyền thống văn hoá lâu đời với hệ thống đình, đền, chùa trong vùng.

Theo thần tích – thần sắc địa phương, Đền Bà thờ vị thần Đống Nương Chế Thắng Hòa Diệu phu nhân. Thần tích tóm lược: thời Hùng Tuấn Vương, tướng Cao Sơn đi bình Thục, dừng quân tại vùng Xuân Lai và được thần nhân báo mộng, “âm phù” lập công. Vua chuẩn cho lập đền thờ và lưu truyền thờ phụng đến nay. Trải các triều, vị thần được ban sắc phong, ghi nhận công lao “hộ quốc tý dân”, nhiều lần hiển linh ứng nghiệm.

Truyền thống lịch sử vùng Xuân Thu

Khu vực có vị trí chiến lược; nhân dân tham gia các cuộc kháng chiến, góp sức người – sức của bảo vệ quê hương.

Cuối TK XIX – đầu TK XX

Xuân Thu là nơi đóng quân, luyện tập và tụ nghĩa của nghĩa quân Hoàng Hoa Thám; người dân ủng hộ lương thực, vũ khí.

1945 – 1972

Sau Cách mạng tháng 8, địa phương củng cố lực lượng; trong kháng chiến, đền từng là nơi chứa lương thực, lớp học, hội họp và có giai đoạn phục vụ nhiệm vụ quân giới.

Tư liệu sắc phong/hoành phi
Tư liệu Hán Nôm và sắc phong là nguồn tư liệu quý khẳng định lịch sử thờ phụng tại di tích.

Tư liệu tiêu biểu

  • Chuông đồng: Niên hiệu Tự Đức 19 (1866).
  • Hoành phi: Khắc chữ “Kiến thiên muội”, niên hiệu Duy Tân (1910).
  • Sắc phong: Niên hiệu Khải Định 9 (1924) cho vị thần thờ tại đền.

Lễ hội

Sinh hoạt tín ngưỡng – trò diễn nghi lễ đặc sắc của làng Xuân Lai.

Hàng năm, tại Đền Bà diễn ra các hoạt động tín ngưỡng như tế lễ, dâng hương. Đặc biệt, lễ hội truyền thống được tổ chức vào ngày mùng 4 tháng Giêng âm lịch. Trong ngày hội, ngoài phần lễ còn có phần hội với nhiều trò diễn dân gian; nổi bật nhất là tục “Kéo mỏ” – một trò diễn theo phong cách nghi lễ, tổ chức trang nghiêm, gắn với ước nguyện quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu và đoàn kết cộng đồng.

Nghi lễ kéo mỏ tại Đền Bà
Các đội thi nhau trong trò chơi Thổi cơm.
Cầu phúc – cầu an
Biểu tượng mùa màng
Đoàn kết cộng đồng
Trò diễn hầu Thánh
Nghi lễ kéo mỏ tại Đền Bà
Kéo mỏ là trò diễn nghi lễ cộng đồng, thu hút đông đảo nhân dân tham gia.

Chuẩn bị Kéo mỏ (tóm tắt)

  • Tiêu chuẩn tre: Chọn tre bánh tẻ xanh biếc, thưa đốt, dài 7–8m.
  • Thời gian thực hiện: Làm mỏ dịp 29–30 Tết, trình lễ xin phép trước khi dùng.
  • Người tham gia: Trai đinh trong làng, khoảng 18–35 tuổi, chia đội theo xóm.
  • Quy ước thi đấu: Thi đấu theo hiệp truyền thống; kết quả mang ý nghĩa tâm linh.

Tục “Kéo mỏ thôn Xuân Lai” đã được ghi nhận trong danh mục Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia (theo Quyết định 4205/QĐ-BVHTTDL ngày 19/12/2014 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch).

Kiến trúc & Nội thất

Bố cục chữ Đinh (J), hệ khung gỗ truyền thống và nghệ thuật trang trí thời Nguyễn.

Đền Bà hiện tọa lạc trên khu đất cao, tương đối rộng và tách biệt giữa quần thể dân cư thôn. Tổng thể gồm: Nghi môn, sân đền, hai dãy tả – hữu mạc, và kiến trúc chính theo lối chữ Đinh (J) bao gồm Tiền tếHậu cung. Nghệ thuật trang trí tập trung ở kẻ hiên và bộ vì trung tâm với các đề tài hổ phù, lá lật, rồng… mang đậm phong cách nghệ thuật thời Nguyễn.

Nghi môn Đền Bà
Nghi môn kiểu tứ trụ tạo 3 cửa; sân đền lát gạch kéo suốt chiều dài.
Không gian Tiền tế – Hậu cung
Tiền tế – Hậu cung với hệ khung gỗ truyền thống và trang trí chạm khắc.
Nghi môn & Sân đền

Nghi môn xây kiểu tứ trụ liền tường bao tạo 3 cửa; thân trụ tạo khung soi gờ kẻ chỉ. Sân đền rộng, lát gạch, kéo dài theo trục đền.

Tả – Hữu mạc

Tả hữu mạc nằm phía trước hai bên đền, mỗi bên 5 gian; là nơi đặt đồ lễ, hội họp và sinh hoạt văn hoá cộng đồng trong những ngày lễ hội.

Tiền tế & Hậu cung
  • Tiền tế: 5 gian 2 dĩ, quay hướng Đông Nam; hệ vì gỗ đa dạng, cột đặt trên chân đá tảng.
  • Hậu cung: 3 gian dọc nối liền Tiền tế; bên trong có khám thờ, đặt ngai – tượng thờ và đồ thờ tự.
  • Trang trí: đề tài hổ phù, rồng chầu, lá lật, văn xoắn… đặc trưng nghệ thuật thời Nguyễn.
Bài trí nội thất Tiền tế – Hậu cung
Bài trí nội thất gồm hương án, cửa võng, hoành phi, câu đối và hệ đồ thờ tự – nghi trượng.

Quản lý & Bảo vệ di tích

Thực trạng quản lý, diện tích khoanh vùng và định hướng bảo tồn – phát huy.

Di tích Đền Bà thuộc thẩm quyền quản lý trực tiếp, toàn diện của UBND huyện Sóc Sơn và UBND xã Xuân Thu. Hiện nay, di tích được chính quyền và nhân dân địa phương trông coi, bảo vệ; đã thành lập tiểu ban quản lý di tích và cử người thủ từ hương đăng thờ cúng thường xuyên.

Thực trạng bảo vệ

  • Quy hoạch & Ranh giới: Khuôn viên đã có tường bao, ranh giới rõ ràng, không bị lấn chiếm.
  • Diện tích khoanh vùng: Theo bản đồ đo vẽ hiện trạng năm 2014 là 1.174,1 m².
  • Nguồn lực tu bổ: Chủ yếu dựa vào công đức và sự đóng góp của nhân dân địa phương.
  • Định hướng chuyên môn: Cần dịch nghĩa Hán Nôm và kiểm kê, giám định khoa học hiện vật.

Định hướng bảo tồn tập trung vào: kiện toàn ban quản lý, quản lý xây dựng khu vực liền kề để bảo đảm hài hoà cảnh quan, khoanh vùng bảo vệ rõ ràng; ưu tiên tu bổ theo quy hoạch tổng thể, chống mối mọt, sửa mái chống dột; đồng thời phát huy giá trị thông qua biển chỉ dẫn, ấn phẩm giới thiệu, hoạt động giáo dục truyền thống và phục dựng chọn lọc nghi thức lễ hội.

Không khí lễ hội tại Đền Bà
Phía trước của Đền Bà trước khi được tu sửa

I. Thông tin chung và Địa vị pháp lý

Tên gọi – vị trí – đường đi – phân loại di tích.

1) Tên gọi
  • Tên thường gọi: Đền Bà.
  • Tên gọi khác: Đền Vua Bà (do nhân dân tôn vị thần thờ là “Vua”).
2) Vị trí
  • Địa chỉ: thôn Xuân Lai, xã Đa Phúc, TP. Hà Nội.
  • Khoảng cách: cách trung tâm Hà Nội khoảng 35km.
3) Phân loại di tích

Đền Bà là di tích tín ngưỡng thờ Thần của cộng đồng cư dân làng xã, thuộc loại hình Di tích Lịch sửKiến trúc – Nghệ thuật.

Không khí lễ hội tại Đền Bà
Giấy chứng nhận Di tích Lịch sử - Kiến trúc Nghệ thuật

II. Dấu mốc lịch sử

Những mốc quan trọng liên quan di tích và vùng đất.

1908 – 1909

1908 hỏa hoạn cháy kiến trúc gỗ; 1909 nhân dân mua lại khung gỗ nhà thờ họ và dựng lại tại đền.

1866 – 1910 – 1924

Di vật và tư liệu có mốc niên đại: chuông Tự Đức 19 (1866), hoành phi Duy Tân (1910), sắc phong Khải Định 9 (1924).

1945 – 1972

Địa phương tham gia giành chính quyền 23/8/1945; trong kháng chiến đền có giai đoạn phục vụ hậu phương và nhiệm vụ quân giới, đồng thời là nơi hội họp, lớp học, kho lương thực.

1993 – 2012

1993 lát nền gạch đỏ; 2012 lát sân, xây cổng và tôn tạo tả/hữu mạc.

III. Nghi lễ – Lễ hội

Thời gian tổ chức, hoạt động và ý nghĩa cộng đồng.

1) Lễ hội Đền Bà

  • Thời gian: mùng 4 tháng Giêng âm lịch hằng năm.
  • Nội dung: tế lễ, dâng hương; phần hội với các trò diễn dân gian, trong đó nổi bật là Kéo mỏ.

2) Kéo mỏ – nghi lễ cộng đồng

Kéo mỏ là trò diễn theo phong cách nghi lễ, được tổ chức trang nghiêm với đầy đủ các bước chuẩn bị, làm mỏ, chọn trai kéo mỏ, cách thức thi đấu và kết quả. Trong quan niệm dân gian, kết quả kéo mỏ gắn với ước nguyện đầu năm: mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, sức khỏe và sự đoàn kết của cộng đồng.

Không khí lễ hội tại Đền Bà
Không khí lễ hội Đền Bà – nơi hội tụ nhân dân địa phương và khách thập phương.
Video tư liệu lễ hội/kéo mỏ.

IV. Di vật tiêu biểu

Những hiện vật nổi bật phản ánh lịch sử và nghệ thuật trang trí truyền thống.

Đền Bà lưu giữ hệ thống di vật có giá trị lịch sử – nghệ thuật, phản ánh phong cách thời Nguyễn như: hoành phi, câu đối, cửa võng, khám thờ, ngai thờ, hương án, nghi trượng… Trong đó có các mốc tư liệu quan trọng giúp khẳng định niên đại và truyền thống thờ tự của di tích.

Loại Tên / Miêu tả Niên đại Ghi chú
Chuông đồng Chuông đồng niên hiệu Tự Đức 1866 (Tự Đức 19) Giá trị lịch sử – nghệ thuật
Hoành phi “Kiến thiên muội” 1910 (Duy Tân Canh Tuất) Ngưỡng vọng thánh trời
Sắc phong Sắc phong cho Đống Nương Chế Thắng Hòa Diệu phu nhân 1924 (Khải Định 9) Tư liệu Hán Nôm quan trọng
Đồ thờ tự Khám thờ, ngai thờ, hương án, cửa võng… Phong cách thời Nguyễn Sơn son thếp vàng, đề tài tứ quý/tứ linh/hổ phù…
Câu đối Hệ thống câu đối Hán Nôm tại Tiền tế Hiện có Nên dịch nghĩa đồng bộ để phục vụ tham quan – nghiên cứu

Liên hệ

Kết nối với Chi đoàn để cập nhật hoạt động và tư liệu di tích.

Góp ý nội dung

Bạn có thể nhắn tin qua Facebook để bổ sung tư liệu và hình ảnh.